Bình Ngô Đại Cáo – Thiên cổ hùng văn

“Bình Ngô đại cáo” là một áng văn chương bất hủ của Cụ Nguyễn Trãi, được viết vào năm 1428, sau khi quân Lam Sơn đánh đuổi quân Minh ra khỏi bờ cõi. Tác phẩm không chỉ là một bản tuyên ngôn độc lập, mà còn là một bức tranh lịch sử sống động, một áng văn chương đầy giá trị.

Cụ Nguyễn Trãi soạn thảo nhằm công bố chiến thắng của nhân dân Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống triều Minh, đồng thời khẳng định độc lập và bình đẳng của Đại Việt so với Trung Quốc. Văn bản này không chỉ có giá trị lịch sử mà còn được xem là một kiệt tác văn học, được giảng dạy rộng rãi trong hệ thống giáo dục Việt Nam, từ cấp trung học cơ sở (lớp 6-9) đến trung học phổ thông (lớp 10-12).

Bối cảnh lịch sử và ý nghĩa

Cuộc kháng chiến chống Minh bắt đầu từ năm 1418, do Lê Lợi lãnh đạo từ căn cứ Lam Sơn, tỉnh Thanh Hóa. Sau 10 năm chiến đấu, quân Minh bị đánh bại hoàn toàn vào mùa đông năm 1427, với các trận đánh nổi bật như diệt viện binh của Liễu Thăng và buộc tổng binh Vương Thông phải xin hàng. Năm 1428, Lê Lợi lên ngôi hoàng đế, lập triều Hậu Lê, và sai Nguyễn Trãi viết “Bình Ngô đại cáo” để thông báo chiến thắng và củng cố tính chính danh của triều đại mới. Văn bản này được xem là tuyên ngôn độc lập thứ hai của dân tộc, sau “Nam quốc sơn hà”, và được ca ngợi là “Thiên cổ hùng văn” (văn kiện hùng mạnh không gì sánh bằng).

Bình Ngô Đại Cáo
Bình Ngô Đại Cáo

Giá trị lịch sử:

Tuyên ngôn độc lập: “Bình Ngô đại cáo” khẳng định chủ quyền của Đại Việt, tuyên bố về sự độc lập và tự chủ của dân tộc sau nhiều năm bị đô hộ.

Ghi chép lịch sử: Tác phẩm tái hiện lại một cách chân thực và sinh động cuộc kháng chiến chống quân Minh, từ những khó khăn ban đầu đến chiến thắng cuối cùng.

Bài học lịch sử: “Bình Ngô đại cáo” là bài học về tinh thần yêu nước, ý chí quật cường và sức mạnh đoàn kết của dân tộc Việt Nam.

Giá trị văn chương:

Thể loại cáo: “Bình Ngô đại cáo” là một áng văn chương mẫu mực của thể loại cáo, với kết cấu chặt chẽ, lập luận sắc bén và ngôn từ hùng hồn.

Ngôn ngữ: Ngôn ngữ của “Bình Ngô đại cáo” vừa trang trọng, vừa gần gũi, thể hiện rõ khí phách của dân tộc.

Hình tượng nghệ thuật: Tác phẩm xây dựng thành công hình tượng người anh hùng Lê Lợi và quân dân Lam Sơn, đồng thời khắc họa rõ nét tội ác của quân xâm lược.

Giá trị tư tưởng:

Tư tưởng nhân nghĩa: “Bình Ngô đại cáo” đề cao tư tưởng nhân nghĩa, coi trọng hòa bình và độc lập dân tộc.

Tư tưởng yêu nước: Tác phẩm thể hiện lòng yêu nước sâu sắc, tinh thần quật cường và ý chí quyết tâm bảo vệ độc lập của dân tộc.

Tư tưởng đoàn kết: “Bình Ngô đại cáo” khẳng định sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân, coi đây là yếu tố quyết định thắng lợi của cuộc kháng chiến.

“Bình Ngô đại cáo” không chỉ là một tác phẩm văn chương, mà còn là một di sản văn hóa quý báu của dân tộc Việt Nam. Tác phẩm là minh chứng cho tinh thần yêu nước, ý chí quật cường và sức mạnh đoàn kết của dân tộc ta trong cuộc đấu tranh bảo vệ độc lập.

Tổng quan về “Bình Ngô đại cáo”

“Bình Ngô đại cáo” là một văn bản lịch sử nổi tiếng, được Nguyễn Trãi soạn thảo vào năm 1428 theo lệnh của Lê Lợi, nhằm công bố chiến thắng của nhân dân Việt Nam trước cuộc xâm lược của triều Minh. Văn bản này không chỉ là một bản tuyên ngôn độc lập mà còn được xem là một kiệt tác văn học, thể hiện tinh thần yêu nước và ý chí đấu tranh của dân tộc.

Bối cảnh và ý nghĩa

Văn bản được viết sau khi cuộc kháng chiến chống Minh kết thúc vào năm 1427, với việc quân Minh bị đánh bại và rút lui. Lê Lợi lên ngôi hoàng đế, lập triều Hậu Lê, và Nguyễn Trãi đã viết “Bình Ngô đại cáo” để thông báo chiến thắng này, khẳng định độc lập và bình đẳng của Đại Việt so với Trung Quốc. Nó được coi là tuyên ngôn độc lập thứ hai sau “Nam quốc sơn hà”, và được giảng dạy trong các trường học từ cấp trung học cơ sở đến trung học phổ thông tại Việt Nam.

Cấu trúc và nội dung

Văn bản được chia thành bốn phần chính:

Lịch sử Đại Việt: Phần này ôn lại lịch sử lâu đời của Việt Nam, nhấn mạnh sự độc lập và di sản văn hóa, từ thời Hồng Bàng đến các triều đại Triệu, Đinh, Lê, Lý, Trần.

Tố cáo tội ác của triều Minh: Phần này liệt kê các hành động xâm lược, áp bức của triều Minh, như giết vua, đàn áp học giả, phá hủy đền chùa, cướp bóc tài sản, và áp đặt thuế nặng.

Kể lại cuộc khởi nghĩa Lam Sơn: Phần này mô tả cuộc đấu tranh giải phóng do Lê Lợi và Nguyễn Trãi lãnh đạo, kể về các trận đánh quan trọng và sự hy sinh của nhân dân, dẫn đến chiến thắng cuối cùng vào năm 1427.

Kết luận và bài học lịch sử: Phần cuối nhấn mạnh rằng chính nghĩa và công lý luôn chiến thắng, kêu gọi sự đoàn kết và lòng yêu nước để bảo vệ độc lập.

Nội dung bản Đại Cáo Bình Ngô được nhà văn Ngô Tất Tố Dịch:

Từng nghe:

Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân
Quân điếu phạt trước lo trừ bạo
Như nước Đại Việt ta từ trước
Vốn xưng nền văn hiến đã lâu
Núi sông bờ cõi đã chia
Phong tục Bắc Nam cũng khác
Từ Triệu, Đinh, Lý, Trần bao đời xây nền độc lập
Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên mỗi bên hùng cứ một phương
Tuy mạnh yếu có lúc khác nhau
Song hào kiệt thời nào cũng có.

Cho nên:
Lưu Cung tham công nên thất bại,
Triệu Tiết thích lớn phải tiêu vong,
Cửa Hàm tử bắt sống Toa Đô
Sông Bạch Đằng giết tươi Ô Mã
Việc xưa xem xét,
Chứng cớ còn ghi.

Vừa rồi:
Nhân họ Hồ chính sự phiền hà,
Để trong nước lòng dân oán hận.
Quân cuồng Minh thừa cơ gây họa,
Bọn gian tà còn bán nước cầu vinh.
Nướng dân đen trên ngọn lửa hung tàn,
Vùi con đỏ xuống dưới hầm tai vạ.
Dối trời lừa dân đủ muôn ngàn kế,
Gây thù kết oán trải mấy mươi năm.
Bại nhân nghĩa nát cả đất trời,
Nặng thuế khóa sạch không đầm núi.
Người bị ép xuống biển dòng lưng mò ngọc, ngán thay cá mập thuồng luồng.
Kẻ bị đem vào núi đãi cát tìm vàng, khốn nỗi rừng sâu, nước độc.
Vét sản vật, bắt dò chim sả, chốn chốn lưới chăng,
Nhiễu nhân dân, bắt hươu đen, nơi nơi cạm đặt.
Tàn hại cả giống côn trùng cây cỏ,
Nheo nhóc thay kẻ góa bụa khốn cùng.
Thằng há miệng, đứa nhe răng, máu mỡ bấy no nê chưa chán ;
Nay xây nhà, mai đắp đất, chân tay nào phục dịch cho vừa.
Nặng nề những nổi phu phen,
Tan tác cả nghề canh cửi.
Độc ác thay, trúc Nam Sơn không ghi hết tội,
Dơ bẩn thay, nước Đông Hải không rửa sạch mùi.
Lẽ nào trời đất dung tha,
Ai bảo thần dân chịu được?

Ta đây:

Núi Lam sơn dấy nghĩa
Chốn hoang dã nương mình
Ngẫm thù lớn há đội trời chung
Căm giặc nước thề không cùng sống
Đau lòng nhức óc, chốc đà mười mấy năm trời
Nếm mật nằm gai, há phải một hai sớm tối.
Quên ăn vì giận, sách lược thao suy xét đã tinh,
Ngẫm trước đến nay, lẽ hưng phế đắn đo càng kỹ.
Những trằn trọc trong cơn mộng mị,
Chỉ băn khoăn một nỗi đồ hồi
Vừa khi cờ nghĩa dấy lên,
Chính lúc quân thù đang mạnh.

Lại ngặt vì:

Tuấn kiệt như sao buổi sớm,
Nhân tài như lá mùa thu,
Việc bôn tẩu thiếu kẻ đỡ đần,
Nơi duy ác hiếm người bàn bạc,
Tấm lòng cứu nước, vẫn đăm đăm muốn tiến về Đông,
Cỗ xe cầu hiền, thường chăm chắm còn dành phía tả.

Thế mà:

Trông người, người càng vắng bóng, mịt mù như nhìn chốn bể khơi.
Tự ta, ta phải dốc lòng, vội vã hơn cứu người chết đuối.
Phần vì giận quân thù ngang dọc,
Phần vì lo vận nước khó khăn,
Khi Linh Sơn lương hết mấy tuần,
Lúc Khôi Huyện quân không một đội.
Trời thử lòng trao cho mệnh lớn
Ta gắng trí khắc phục gian nan.
Nhân dân bốn cõi một nhà, dựng cần trúc ngọn cờ phấp phới
Tướng sĩ một lòng phụ tử, hòa nước sông chén rượu ngọt ngào.
Thế trận xuất kỳ, lấy yếu chống mạnh,
Dùng quân mai phục, lấy ít địch nhiều.

Trọn hay:

Đem đại nghĩa để thắng hung tàn,
Lấy chí nhân để thay cường bạo.
Trận Bồ Đằng sấm vang chớp giật,
Miền Trà Lân trúc chẻ tro bay.
Sĩ khí đã hăng
Quân thanh càng mạnh.
Trần Trí, Sơn Thọ nghe hơi mà mất vía,
Lý An, Phương Chính, nín thở cầu thoát thân.
Thừa thắng đuổi dài, Tây Kinh quân ta chiếm lại,
Tuyển binh tiến đánh, Đông Đô đất cũ thu về.
Ninh Kiều máu chảy thành sông, tanh trôi vạn dặm
Tụy Động thây chất đầy nội, nhơ để ngàn năm.
Phúc tâm quân giặc Trần Hiệp đã phải bêu đầu
Mọt gian kẻ thù Lý Lượng cũng đành bỏ mạng.
Vương Thông gỡ thế nguy, mà đám lửa cháy lại càng cháy
Mã Anh cứu trận đánh mà quân ta hăng lại càng hăng.
Bó tay để đợi bại vong, giặc đã trí cùng lực kiệt,
Chẳng đánh mà người chịu khuất, ta đây mưu phạt tâm công.
Tưởng chúng biết lẽ ăn năn nên đã thay lòng đổi dạ
Ngờ đâu vẫn đương mưu tính lại còn chuốc tội gây oan.
Giữ ý kiến một người, gieo vạ cho bao nhiêu kẻ khác,
Tham công danh một lúc, để cười cho tất cả thế gian.

Bởi thế:
Thằng nhãi con Tuyên Đức động binh không ngừng
Đồ nhút nhát Thạnh, Thăng đem dầu chữa cháy
Đinh mùi tháng chín, Liễu Thăng đem binh từ Khâu Ôn kéo lại
Năm ấy tháng mười, Mộc Thạnh chia đường từ Vân Nam tiến sang.
Ta trước đã điều binh thủ hiểm, chặt mũi tiên phong
Sau lại sai tướng chẹn đường, tuyệt nguồn lương thực
Ngày mười tám, trận Chi Lăng, Liễu Thăng thất thế
Ngày hai mươi, trận Mã Yên, Liễu Thăng cụt đầu
Ngày hăm lăm, bá tước Lương Minh đại bại tử vong
Ngày hăm tám, thượng thư Lý Khánh cùng kế tự vẫn.
Thuận đà ta đưa lưỡi dao tung phá
Bí nước giặc quay mũi giáo đánh nhau
Lại thêm quân bốn mặt vây thành
Hẹn đến giữa tháng mười diệt giặc
Sĩ tốt kén người hùng hổ
Bề tôi chọn kẻ vuốt nanh
Gươm mài đá, đá núi cũng mòn
Voi uống nước, nước sông phải cạn.
Đánh một trận, sạch không kình ngạc
Đánh hai trận tan tác chim muông.
Cơn gió to trút sạch lá khô,
Tổ kiến hổng sụt toang đê vỡ.
Đô đốc Thôi Tụ lê gối dâng tờ tạ tội,
Thượng thư Hoàng Phúc trói tay để tự xin hàng.
Lạng Giang, Lạng Sơn, thây chất đầy đường
Xương Giang, Bình Than, máu trôi đỏ nước
Ghê gớm thay! Sắc phong vân phải đổi,
Thảm đạm thay! Ánh nhật nguyệt phải mờ

Bị ta chặn ở Lê Hoa, quân Vân Nam nghi ngờ khiếp vía mà vỡ mật!
Nghe Thăng thua ở Cần Trạm, quân Mộc Thạnh xéo lên nhau chạy để thoát thân.
Suối Lãnh Câu, máu chảy thành sông, nước sông nghẹn ngào tiếng khóc
Thành Đan Xá, thây chất thành núi, cỏ nội đầm đìa máu đen.
Cứu binh hai đạo tan tành, quay gót chẳng kịp,
Quân giặc các thành khốn đốn, cởi giáp ra hàng
Tướng giặc bị cầm tù, như hổ đói vẫy đuôi xin cứu mạng
Thần Vũ chẳng giết hại, thể lòng trời ta mở đường hiếu sinh
Mã Kỳ, Phương Chính, cấp cho năm trăm chiếc thuyền, ra đến biển mà vẫn hồn bay phách lạc,
Vương Thông, Mã Anh, phát cho vài nghìn cỗ ngựa, về đến nước mà vẫn tim đập chân run.
Họ đã tham sống sợ chết mà hòa hiếu thực lòng
Ta lấy toàn quân là hơn, để nhân dân nghỉ sức.
Chẳng những mưu kế kì diệu
Cũng là chưa thấy xưa nay
Xã tắc từ đây vững bền
Giang sơn từ đây đổi mới
Càn khôn bĩ rồi lại thái
Nhật nguyệt hối rồi lại minh
Ngàn năm vết nhục nhã sạch làu
Muôn thuở nền thái bình vững chắc
Âu cũng nhờ trời đất tổ tông linh thiêng đã lặng thầm phù trợ;

Than ôi!

Một cỗ nhung y chiến thắng,
Nên công oanh liệt ngàn năm
Bốn phương biển cả thanh bình,
Ban chiếu duy tân khắp chốn.

Xa gần bá cáo,
Ai nấy đều hay.

👉 https://voimt.com/ Hãy đặt nền móng cho sự hợp tác bằng cách gọi cho tôi

(Mr Hoàng)  Hotline: 0374585868

Website: VOIMT.COM

Leave Comments

0374585868
0388454589